LÃNH THỔ SÁT NHẬP VÀ CHÍNH THỂ LIÊN BANG.
Thời kỳ chiến tranh cổ điển, nhân loại dựa vào bắp thịt sức mạnh là chủ yếu trong các cuộc xung đột, tranh chấp quyền lực, đất đai, tài nguyên...với các loại vũ khí thô sơ như: gậy, gươm, dao, cung, nõ...hợp lực với võ nghệ, bản lãnh, gan dạ, thủ đoạn, tài trí, mưu lược... là những yếu tố quyết định sự thành bại của các triều đại vương quyền, phong kiến ngày xưa; thời kỳ" cá lớn nuốt cá bé" theo như định luật thiên nhiên đối với các loài vật" mạnh được yếu thua" đã làm thay đổi bản đồ thế giới rất nhiều phen; nhất là các nước lớn, có dân số đông, thường chủ trương lấy thịt đè người, đem quân tràn sang cai trị, đồng hóa nhiều bộ tộc, các nước nhỏ, dần dần bị mất đất và cả nguồn gốc lịch sử cũng bị xóa sạch bởi thế lực thống trị. Tuy nhiên, khi gặp những dân tộc bất khuất như Việt Nam, thì dù ngoại bang Trung Hoa có đặt nền móng cai trị hàng ngàn năm, với chính sách cai trị tàn bạo như Tô Định, Trương Phụ, Tôn Sĩ Nghị...hay mềm dẻo như Nhăm Viên, Tế Quang, Sĩ Nhiếp.. tất cả những mưu đồ đồng hóa ấy không thành công và ngày nay nước Việt Nam vẫn còn có tên trên bản đồ thế giới.
Cuộc bùng phát khoa học kỷ thuật, đưa đến sự phát triển kỷ nghệ của các quốc gia Âu Châu vào thế kỷ 18 đã làm thay đổi cục diện toàn thế giới, người da trắng với vũ khí tối tân, quân đội được huấn luyện tinh nhuệ, ngang dọc nhiều lục địa, làm chủ các mặt đại dương, đe dọa những quốc gia chậm phát triển, trong đó nước Trung Hoa cũng phải đành bị xâu xé thành nhiều mảnh; triều đình Mãn Thanh cũng phải đành mở cửa nhiều hải cảng, cắt đất Hồng Kông nhường cho Anh, Bồ Đào Nha với Macau trong thời hạn 100 năm. Sức mạnh bắp thịt không còn là ưu thế tuyệt đối sau thời gian khá dài ngự trị bởi các đế chế; tiếp nối là thời kỳ sức mạnh trí tuệ với các phát minh khoa học, nhất là trong lãnh vực quốc phòng, càng ngày các loại vũ khí giết người càng tối tân ra đời, nên các thế lực xâm lược theo kiểu cũ như Trung Hoa đành phải chịu thua các nước Âu Châu trong phong trào đi xâm chiếm thuộc địa; chính các nước Âu Châu đã chận đứng chủ nghĩa xâm lược, bành trướng lãnh thổ của Hán Tộc, thường đe dọa an bình, chủ quyền của các quốc gia lân bang; nhưng các nước nhược tiểu lại bị rơi vào tay các thế lực ngoại xâm mới. Chủ nghĩa thực dân Âu Châu cũng phải có chiêu bài để che đậy mưu đồ chiếm đất các nước khác, vơ vét tài nguyên thiên nhiên, tạo thế đứng trên chính trường quốc tế là:" khai hóa, đem văn minh đến các dân tộc chậm tiến". Trong số các quốc gia xâm lược, chỉ có nước Anh là ít hà khắc nhất, nên sau khi chủ nghĩa thực dân cáo chung, thì các nước cựu thuộc địa vẫn có mối quan hệ tốt với cựu mẫu quốc với Khối Thịnh Vượng Chung và hầu như các thuộc địa cũ nầy ít bị rơi vào tay Cộng Sản, kể cả nước nghèo nhất là Ấn Độ. Trong khi đó, thực dân Pháp cai trị rất hà khắt, là một trong những nguyên nhân được người Cộng Sản lợi dụng để thu phục dân chúng đi theo, khiến những thuộc địa cũ của Pháp dễ bị rơi vào tay Cộng Sản như trường hợp Việt Nam. Cho nên phong trào Cộng Sản gây tác hại khôn lường tại Việt Nam, một phần do chính sách cai trị của thực dân Pháp.
Dùng sức mạnh quân sự để áp bức, cưỡng chiếm sát nhập vào lãnh thổ mình là lối xâm lăng bất chánh, bị loài người lên án, đương nhiên là các dân tộc bị xâm lược uất hận; do đó những thế lực ngoại bang luôn bị các dân tộc bị trị nổi lên chống lại, là phản ứng tự nhiên tự vệ để tồn tại. Cuộc xâm lăng cuối cùng bằng vũ lực của Hán Tộc qua đại diện là bạo quyền Cộng Sản Trung Quốc do Mao Trạch Đông lãnh đạo vào năm 1950 tại Tây Tạng, từ đó nước Trung Hoa trở thành cái gai nhọn trong cuộc chiến tranh lạnh, bị cấm vận, bao vây từ 1949 đến năm 1972. Chủ nghĩa thực dân thuộc địa cũng cáo chung sau đệ nhị thế chiến, nhiều nước được trao trả độc lập như Ấn Độ, Mã Lai, Nam Dương....và cuộc chiến tranh lạnh tiếp nối, là hình thái mới trong mưu đồ xâm lược của các nước trong khối Cộng Sản thế giới, lấy danh nghĩa" giải thực, bài phong, cơm áo" để bành trướng chủ nghĩa Cộng Sản khắp nơi, là thế lực xâm lăng mới, rất nguy hiểm, được trang bị triết học Marx Lenin. Thời kỳ một số nước cạnh Liên Sô ở Đông Âu lọt vào quỷ đạo Cộng Sản, Á Châu có Trung Cộng, Bắc Việt Nam, Bắc Hàn, Lào, Miên....Mỹ châu có Cu Ba....và nhiều nước kém phát triển ở lục địa Châu Phi. Những nước Cộng Sản khắp các châu lục bị lôi cuốn vào hai cực: Liên Sô và Trung Cộng, nên trở thành chư hầu của một trong hai đàn anh Cộng Sản nầy. Chiêu bài xâm lược biến đổi và ngụy trang qua chiêu bài" đánh Mỹ cứu nước" tại chiến trường miền Nam trước 1975 và dùng danh nghĩa:" làm nghĩa vụ quốc tế" tại chiến trường A Phú Hãn do Nga chiếm, Miên với Cộng Sản Việt Nam vào thập nên 1980.... Tất cả các lãnh thổ bị thôn tín bằng nhiều hình thức, không được quần chúng chấp nhận, cho nên trong các chính quyền thống trị luôn có mầm móng chống đối, như luật" mâu thuẫn nội tại" của chủ nghĩa Karl Marx đề ra để làm nền tảng cho chủ trương cướp của, giết người qua cái gọi là:" đấu tranh giai cấp". Bộ máy cai trị được dựng lên do áp đặt từ ngoại bang hay thiểu số, chỉ tồn tại một thời gian và sau đó phải sụp đổ, là bằng chứng điển hình tại Liên Sô, các nước Cộng Sản Đông Âu. Cuộc chiếm đóng một số lãnh thổ của Do Thái ở vùng trung Đông sau cuộc chiến 6 ngày năm 1967, nhiều vùng đất thuộc Lebenon, Ai Cập, lãnh thổ Palestine....vẫn luôn bất ổn, vì" thiên thời địa lợi bất như nhân hòa", các dân tộc chung quanh không chấp nhận sự hiện diện của người Do Thái trên các vùng đất bị chiếm bởi vũ lực. Cũng như nước Nam Dương dưới thời tổng thống Suharto đã xua quân chiếm Đông Timor vào năm 1975, không được dân chúng chấp nhận, nên phải rút lui, trả lại quyền tự quyết cho dân sau những áp lực quốc tế do sự đứng dậy của người dân xứ nầy. Cao trào dân chủ toàn cầu và dân tộc tự quyết làm cho nhiều chế độ độc tài, Cộng Sản quan ngại, điều nầy nói lên sự phi chính nghĩa của bạo lực, sau thời gian cực thịnh, cũng phải bị đào thải bởi lòng người không đồng thuận; nhất là các chế độ bạo ngược lưu lại oán thù lâu dài trong lòng dân bị trị qua quá trình lịch sử, như người Việt Nam nào quên:" ngàn năm nô lệ giặc Tàu, trăm năm đô hộ giặc Tây, gần một thế kỷ bị giặc Cộng thô bạo cai trị".
Trong các thể chế chính trị tại các quốc gia dân chủ trên thế giới ngày nay với hệ thống chính quyền Liên Bang cũng là sự sát nhập từ các vùng đất khác nhau để thành lập một quốc gia lớn; nhưng đây không bị áp đặt bởi bất cứ thế lực nào, tất cả đều dựa theo tinh thần dân tộc tự quyết của người dân địa phương. Khác với các thể chế liên bang thành hình do sự áp đặt tại các nước Cộng Sản như Liên Bang Sô Viết, Cộng Hòa Nam Tư....các nước nhỏ bị vũ lực cưỡng bức sát nhập, nên sau khi đế chế bạo quyền tan rả, tạo nên nhiều tệ hại là các cuộc bạo loạn kéo dài tại Nam Tư, hậu quả do chính sách cưỡng bách sát nhận từ thời nhà lãnh đạo độc tài Cộng Sản Tito, tạo ra tình trạng chém giết hàng loạt, thanh tẩy chủng tộc dưới của tổng thống Melosevic, sau cùng thế giới phải can thiệp bằng quân sự bởi khối NATO và Liên Hiệp Quốc, nên nước nầy tàn rả thành nhiều nước nhỏ như Croatia, Serb...và gần đây là cuộc tuyên bố độc lập của sắc dân Albanian ở Kosovo được coi là lần đứng lên cuối cùng ở nước Nam Tư đòi tự trị. Liên Bang Sô Viết cũng tan tành, từ đó có nhiều nước nhỏ ra đời như Cộng Hòa Ukaina, Belarus, Uberkistan,.... Trong khi đó, tại các quốc gia tự do như Hoa Kỳ, Đức, Úc, Canada....thể chế liên bang hoàn toàn do dân tự quyết định, các tiểu bang bầu ra người lãnh đạo, quốc hội, các chính quyền địa phương...có ngân sách riêng, tự trị nhiều lãnh vực, ngoại trừ ngoại giao, quốc phòng....nên dân chúng các tiểu bang không đứng lên đòi tự trị, độc lập như các nước bị áp đặt sát nhập; trường hợp rất hiếm xảy ra như ở Canada, tiểu bang Quebec có nhiều người nói tiếng Pháp đã đòi tự trị, nhưng họ bị thất bại trong cuộc trưng cầu dân ý, nếu họ thành công, thì thế giới có thêm nước Quebec mà không có bất cứ cuộc đổ máu nào. Một điều thực tế là các nước thù nghịch thuộc khối Cộng Sản Quốc Tế thời chiến tranh lạnh, hay các nước tàn dư thời hậu chiến tranh lạnh ngày nay không thể dùng bất cứ thủ đoạn kỷ thuật tuyên truyền nào để kích động các tiểu bang đứng lên đòi độc lập, tách rời ra khỏi Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, Liên Bang Đức, Liên Bang Úc....vì người dân đã độc lập ngay trong tiểu bang của mình, chính họ chọn những người lãnh đạo từ cấp thấp đến cấp cao nhất, được hưởng nhiều quyền lợi và sự tương trợ giữa các tiểu bang với nhau khi có thiên tai hay chiến tranh.
Nước Trung Hoa thành hình từ ngày xưa, trở thành nước lớn ở Á Châu, đông dân nhất trên thế giới là do quá trình" xâm lược, đồng hóa" liên tục từ hàng ngàn năm lịch sử, biết bao cuộc sát phạt, thôn tín của Hán Tộc, dùng quân sự đè bẹp các sắc tộc nhỏ, đồng hóa ngôn ngữ, phong tục, mang thần thánh sang để tạo ràng buột tôn giáo, nhằm củng cố chế độ cai trị lâu dài. Tuy vậy, nhiều lần Hán Tộc cũng bị nhục bởi các sắc tộc chung quanh, như nhà Nguyên do người Mông Cổ cai trị và người Mãn Thanh chiếm được Trung Hoa; đây là cái gương cho các dân tộc nào muốn" sống chung hòa bình" với Hán Tộc: Người Kim sau khi làm chủ nước Trung Hoa, tưởng đâu kéo dài đế chế lâu dài, đồng hóa thành dân Mãn, nên sát nhập luôn đất tổ tiên vào, thế rồi sau cùng người Mãn bị đồng hóa ngược lại, mất cả đất đai. Người Hán từng xâm lược nhiều nước khác, họ thừa hiểu rằng:" ác lai ác báo", đi ăn cướp cũng có ngày bị phản phé, nên các triều đại phong kiến Trung Hoa thường lo sợ các chư hầu hay các sắc tộc chung quanh, Vạn Lý Trường Thành do Tần Thủy Hoàng xây cách đây hơn 2 ngàn năm là bằng chứng sự lo sợ của thường trực của Hán Tộc" suy bụng ta ra bụng người". Nước Tây Tạng bị Trung Cộng Chiếm từ 1950, bạo quyền Cộng Sản Trung Quốc áp đặt một bộ máy cai trị của họ, áp dụng chính sách đồng hóa thâm độc, tiêu diệt nền văn hóa truyền thống Phật Giáo một cách tinh vi, những kẻ vô thần còn dựng lên" vị Phật sống khác" để thay thế vị Đa Lai Đa Ma lưu vong và vị Lạt Ma được chọn theo truyền thống Phật Giáo. Dù bị cai trị bởi cường quyền, bạo lực, người Tây Tạng luôn hiếu hòa, tu học; nhưng trong lòng vẫn nung nấu một nước độc lập, văn hóa bảo tồn, Phật Giáo được tôn trọng, tự do tín ngưỡng không bị xâm phạm, sách nhiễu, chà đạp. Sự thống trị tàn ác, dã man của bạo quyền Trung Cộng đưa dân tộc hiếu hòa Tây Tạng vào tử lộ, dẫn đến phản ứng tự vệ" tức nước vở bờ" qua cuộc khởi nghĩa bằng vũ lực bất thành 1959, đưa đến sự lưu vong của người Tây Tạng nhiều nơi trên thế giới và đức Đa Lai Đa Ma phải sang đất Ấn Độ tạm dung, thành lập chính phủ lưu vong. Lòng người dân Tây Tạng không bao giờ phục tùng bạo quyền, nhất là thế lực vô thần Cộng Sản từ ngoại bang Hán Tộc áp đặt, nên họ phải tìm mọi cách để tự tồn. Cuộc đấu tranh của các dân tộc bị trị ngày nay không còn đơn lẽ nữa, bởi kỷ thuật truyền thông tối tân, dù bị bưng bít nhưng thế giới vẫn có thể biết ít nhiều; nếu cuộc xâm lăng của Trung Cộng vào thời điểm ngày nay, thì chưa chắc gì nhà cầm quyền đế quốc Đỏ ở Trung Nam Hải thực hiện được, vì gặp nhiều bất lợi về mặt công luận và chịu nhiều áp lực thế giới, nhất là các nước dân chủ Tây Phương.
Sau thời gian dài" nín thở qua sông" để củng cố lực lượng, phát triển kinh tế, lợi dụng thời cơ theo kế" man thiên quá ải", nhất là từ khi khối Cộng Sản Âu Châu sụp đổ; ngày nay Trung Cộng đang trong thời kỳ khó khăn, khi thế giới đã nhận dạng ra chân tướng là kẻ thù mới, trở thành thế lực lãnh đạo các nước tàn dư Cộng Sản và các thế lực phá hoại hòa bình, độc tài trong" hậu chiến tranh lạnh"; Trung Cộng cũng như Việt Cộng, với bản chất không bao giờ thay đổi là: nói một đàng làm một nẽo; họ thường mang bộ mặt" tếu lý tàng đao" trong các chính sách đối ngoại, nhất là khai thác quyền lợi giao thương để bịt miệng các nước quan hệ, khỏa lấp chuyện vi phạm nhân quyền trong nước, hầu duy trì chế độ lâu dài. Sự bùng phát của Trung Cộng về kinh tế nhờ Tây Phương, nhất là Hoa Kỳ giúp đỡ, là mối cạnh tranh bất chính trong thương trường quốc tế, làm các nước thiệt hại hàng trăm tỷ Mỹ Kim mỗi năm qua các mặt hàng giảm nhái, ăn cắp bản quyền. Bàn tay Trung Cộng thò nhiều nơi, như giúp cho chính quyền Sudan diệt chủng ở Darfur để mua dầu hỏa, xúi dục và cung cấp vũ khí, hậu thuẫn cho các nhóm phiến Cộng ở Nepal, người ta nghi ngờ là Trung Cộng ngấm ngầm ủng hộ các thế lực thù nghịch với các cường quốc Âu Mỹ để làm suy yếu và tìm cách đánh phá, thực hiện giấc mộng bá quyền của dòng Hán Tộc....Trung Cộng ngày nay chính là hiểm họa mới cho nhân loại, nếu chính quyền độc tài Cộng Sản vẫn còn tồn tại. Trung Cộng rất tinh quái hơn bất cứ kẻ thù nào trong lịch sử nhân loại, đây là kẻ thù dấu mặt, nhưng bên trong là những thủ đoạn gian manh, thò bàn tay lông lá, xuất chiêu độc, kể cả đánh lén, ném đá dấu tay... khi có cơ hội, đây mới đúng là:" những kẻ lừa thầy phản bạn, thường hay giả dạng kẻ nhân từ" trong các chính sách đối ngoại, giao thương...Trong quá khứ, tổ tiên Hán Tộc từng thôn tín, sát nhập nhiều nước nhỏ, nên mối bất mãn, bất phục tùng luôn duy trì trong lòng các sắc dân bị chiếm đóng. Sự đứng lên bằng ý chí, không vũ trang của người Tây Tạng nhân kỷ niệm ngày khởi nghĩa 10-3-1959 vào năm 2008 cũng có thể là mầm móng của các cuộc đứng dậy của nhiều bộ tộc ở Tân Cương, Tứ Xuyên, nội, ngoại Mông....nên bạo quyền Bắc Kinh tìm đủ mọi biện pháp để đàn áp và bưng bít, đồng thời tuyên truyền xuyên tạc những người dân đứng lên giành độc lập, đánh bóng sự cai trị của họ...tuy nhiên, cuộc chiến đấu của người Tây Tạng không bị bỏ quên, đơn độc như ngày xưa; tất cả các nước có dân Tây Tạng định cư, có nhiều cuộc biểu tình trước sứ quán, lãnh sự Trung Cộng, gây tiếng vang, áp lực với các chính quyền, có khả năng làm trôi lớp sơn giả của bạo quyền Trung Cộng được bôi trét ngụy trang từ nhiều thập niên, làm giảm đi uy tín trong kỳ thế vận hội sắp tổ chức vào đầu tháng 8 năm 2008 tại Bắc Kinh, mà Trung Cộng đã đầu tư hàng chục tỷ Mỹ Kim, mất biết bao công lao vận động để thực hiện. Khác với hầu hết các kỳ tổ chức Olympic từng xảy ra trên thế giới, lần nầy, trước khi diễn ra, nước tổ chức Trung Cộng mang nhiều tai tiếng đàn áp dân Tây Tạng, phong trào Pháp Luân Công, các nhà dân chủ đối kháng, dân oan, thức ăn và sản phẩm không an toàn, vệ sinh, vụ ăn thịt thai nhi, những vụ giết hài nhi gái nhan nhản khắp nơi do chính sách một con....nên kỳ rước đuốc thế vận hội qua các nước, chắc chắn sẽ có những cuộc biểu tình song hành, làm cho bộ mặt đạo đức giả của Bắc Kinh càng trơ trẽn hơn và hứa hẹn số người tẩy chay không nhỏ.
Những chính quyền do dân bầu ra, nên dân cũng có quyền truất phế hay bất tín nhiệm trong lần bầu kế tiếp; đó là nên tảng dân chủ vững chắc, khiến các tiểu bang không muốn tự trị tuyên bố độc lập. Trái lại tất cả các bộ máy cai trị do bị áp đặt, thì luôn gây bất mãn, bất phục tùng trong dân chúng, là ngòi nổ có sẵn, chỉ chờ kích hỏa là bùng phát. Tây Tạng, Việt Nam, Bắc Hàn, Cu Ba, Lào...với hệ thống cầm quyền không do dân bầu ra, tất cả đều do đảng Cộng Sản áp đặt, nên không đủ tư cách pháp lý để đại diện cho cả nước đi vay nợ, làm công tác ngoại giao nay bất cứ quan hệ ngoại giao nào. Do đó những nhà lãnh đạo, đại diện cho dân tại các quốc gia dân chủ mà thương thuyết với các đầu lãnh đảng Cộng Sản trong các hợp tác, thương ước....không được coi là chánh nghĩa; việc làm nầy không khác gì người lương thiện ký kết làm ăn, đón tiếp, kết thân với đảng cướp để mua hàng gian, hàng ăn cướp... lý do là đối tác chỉ do một thiểu số rất ít tự ý đưa lên, chứ dân nào bầu cho họ. Những tên đầu lãnh đảng cướp nầy không đủ thẩm quyền, tư cách để làm những việc đó, đây là mối sĩ nhục của nền dân chủ thế giới, nhất là các quốc gia Âu Mỹ, thường tự hào về nền dân chủ kiểu mẫu của họ. Vì quyền lợi mà cam tâm cấu kết với băng đảng cướp bất lương là thái độ mâu thuẫn đáng trách; các quốc trên thế giới ra sức truy lùng, chống đảng cướp Mafia, các băng đảng tội ác, nhưng lại bắt tay với đảng Cộng Sản, là đảng cướp tàn độc, dã man hơn đảng Mafia gấp vạn lần. Nếu các cường quốc đương đại thực sự tôn trọng Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền do chính họ làm ra, ký tên và làm nền tảng cho quyền con người, thì họ không bao giờ mời những tên đại diện cho các đảng cướp Cộng Sản Trung Cộng, Việt Nam...sang" tham quan", không cho những tên bất lương nầy nhập cảnh, thì các đảng Cộng Sản gặp rất nhiều khó khăn và nạn nhân Cộng Sản được sống yên bình, đóng góp công sức vào việc phát triển đất nước tạm dung. Các nước Tây Phương chủ trương lấy" ý dân là ý trời", thường ủng hộ các dân tộc trong việc thực hiện quyền" dân tộc tự quyết". Nên họ nhanh chóng ủng hộ và hổ trợ cho Đông Timor, Kosovo...tuyên bố độc lập. Trái lại, khi đụng tới Bắc Kinh là các nước Tây Phương e dè, có khi phản ứng ngược lại, như trường hợp Đài Loan đòi tuyên bố độc lập thì bị chính phủ Hoa Kỳ, Úc...bác bỏ. Một vài chính phủ tự hào về nền dân chủ, độc lập như Úc, thế mà họ e sợ những lời khuyến cáo của Trung Cộng trong việc tiếp đón đức Đa Lai Đa Ma đến thăm viếng. Trường hợp Tây Tạng rõ ràng là bị Trung Cộng xua quân xâm chiếm, giống như Đông Timor, thế mà các nước Tây Phương không có thái độ dứt khoát ủng hộ nước nầy được độc lập, thậm chí đến yêu cầu đòi" tự trị" của đức Đa Lai Đa Ma cũng bị làm ngơ. Tuy nhiên, khi máu của người Tây Tạng đổ ra như ở Đông Timor, thì hy vọng thế giới sẽ không đứng yên để cho bạo quyền Trung Cộng thực hiện một vụ An Thiên Môn thứ hai. Độc lập, tự do không ai ban cho, phải đấu tranh quyết liệt mới có, như lời nhà ái quốc Nguyễn Thái Học:" Cờ độc lập, hoa tự do tưới bằng máu".
Trung Cộng thừa biết tình hình thế giới ngày nay không còn thuận lợi cho chủ nghĩa bành trướng, xâm lược theo truyền thống tổ tiên Hán Tộc nữa, nên tìm mọi cách thay đổi hình thái xâm lược bằng áp lực kinh tế, răng đe quân sự đối với các nước lân bang, dùng tiền để mua chuộc chính quyền, thò bàn tay lông lá gây ảnh hưởng đến các nước trong khu vực như Miến Điện, Miên.... Tuy nhiên sự kiện một số quốc gia mới ra đời do sự tan rả của đế quốc Đỏ Sô Viết, Cựu Cộng Hòa Nam Tư, độc lập ở Đông Timor và gần đây là Kosovo...khiến bạo quyền Bắc Kinh lo sợ sẽ có ngày nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa bị tàn tành thành nhiều mảnh vụn, với sự ra đòi của nhiều nước mới do các sắc tộc đứng dậy sau thời gian dài bị áp đặt trở thành lãnh thổ Trung Hoa. Những điểm nóng làm họ nhức nhói ở Tân Cương, Tây Tạng...có khả năng trở thành ngòi nổi làm lung lay đế chế Cộng Sản Trung Quốc bất cứ lúc nào. Cho nên, Trung Cộng cố gắng hết mình để vừa đập tan mọi cuộc khởi nghĩa của các sắc tộc và vừa bưng bít những tội ác diệt chủng, cũng vừa tranh thủ bộ mặt hiền từ đối với quốc tế. Tuy nhiên, bàn tay không che nổi mặt trời, gian manh, quỷ huyệt cũng bị vạch mặt và cuộc đứng dậy của dân Tây Tạng, song hành với thế vận hội Olympic 2008 là dịp để loài người yêu chuộng hòa bình nhận diện ra con ác quỷ Trung Nam Hải hiện nguyên hình với đầy đủ nanh vuốt hung hăng, như ma quái giả dạng Phật trong chuyện Tây Du Ký, bị kiếng chiếu yêu rọi, khiến nó bị hiện nguyên hình. Sự đứng dậy của người dân Tây Tạng lần nầy có nhiều tác động khôn lường trong tương lai đối với nhà nước độc tài Trung Cộng, đây đến ngày Olympic khai mạc sẽ có nhiều biến chuyển bất ngờ, cũng là những lo ngại của Bắc Kinh vậy. Người dân Việt Nam không bao giờ có quyền lựa chọn những người đại diện cho mình trong các hệ thống chính quyền từ trung ương đến tỉnh, huyện...tất cả đều do một băng đảng cướp Cộng Sản Việt Nam tự ý áp đặt bộ máy cai trị, nên người Việt Nam không bao giờ chấp nhận một thứ bạo quyền như thế, đó là lý do giải thích sự đấu tranh liên tục của người Việt trong và ngoài nước trong nhằm có được quyền" dân tộc tự quyết" dưới thể chế chính trị đa đảng, dân chủ tự do thật sự. Người Tây Tạng, Việt Nam...cũng đều muốn được lựa chọn người đại diện của mình qua hình thức dân chủ, cho nên các chế độ độc tài Cộng Sản sẽ dần dần mất chỗ đứng trong cộng đồng nhân loại, mà sự cáo chung của Liên Bang Sô Viết và khối Cộng đảng Đông Âu là hồi chuông báo tử cho các nước tàn sư Cộng Sản./.
Trương Minh Hòa NT3
|