Khóa 1 Nguyễn Trăi
Khóa 2 Nguyễn Trăi
Khóa 3 Nguyễn Trăi
Khóa 4 Nguyễn Trăi
Khóa 5 Nguyễn Trãi
Khóa 6 Nguyễn Trãi
Đặc san Ức Trai
Tin Tương Trợ
Tin Quan-Hôn-Tang-Tế
Thư Tín

Lấy yếu chống mạnh hoặc đánh lúc bất ngờ. Lấy ít địch nhiều hoặc dùng quân mai phục. Rút lại là lấy đại nghĩa mà thắng được hung tàn. Lấy chí nhân mà yên cường bạo ...

Bình Ngô Đại Cáo - Nguyễn Trãi

 

Hãy cùng nhau xây dựng Quỹ Tương Trợ. Mọi đóng góp xin liên lạc với THP Đặc trách Xã hội, Nguyễn đình Lê. Đia chỉ email :

lenguyend@yahoo.com

_________________________

 

Web sites Hội Địa Phương

Hội Texas- Kansas- Oak

Hội Tây Bắc Mỹ

Gia dình Nguyễn Trãi Úc Châu

Các địa chỉ Web sites khác:

Viện Việt học

Hình ảnh Xưa

Web site Trần T Đạo

Phong tục -Tập Quán

Văn hóa - Vietland

Thơ Truyện

Nhạc trước 75

Linh Tinh..

 

 

 

Trên Vết Thù

Lời tác giả: Đây là những mẩu chuyện thật trong thời gian cải tạo được kể lại vắn tắt. Sự chủ quan là điều khó tránh; bởi khi nhớ lại những xúc cảm vẫn còn nguyên vẹn, mong người đọc thông cảm nếu có điều không vừa ý. Xin đa tạ.

Mỗi một người tù cải tạo, dù chỉ trong một quãng thời gian ngắn cũng đã có biết bao điều để kể. Với tôi, gần 9 năm tù, trong đó đã 5 năm đọa hình trên đất Bắc từ Yên Bái (Hoàng Liên Sơn) đến trại Phong Quang (Lào Kay) rồi trại Vĩnh Quang A (Vĩnh Phú), đến giữa 1982 chuyển về trại Xuân Lộc Z30A, cuối 1983 mới được thả về.
Còn nhớ khoảng 1978, trên đất Bắc, trong một đợt kiểm tra sức khoẻ, đoàn y tế đến trại Phong Quang, hầu hết mọi người tù chỉ cân nặng khoảng 34 đến 36 ký, tương đương trọng lượng của những con khỉ đói trên rừng, nhưng trên hồ sơ họ ghi rước mặt người tù đều 45 ký. Người tù chịu rất nhiều áp lực: từ cực nhọc vì lao động khổ sai đến căng thẳng tinh thần khi kiểm điểm. Một số “có chức tự quản” muốn sớm về nên tận tình lấy điểm với công an quản giáo. Một ít chó săn ăng-ten báo cáo mật nữa. Thật vô cùng khốn khổ trong tâm trạng phải bất chợt xa lìa vợ con, bị đẩy vào rừng sâu đoạ đầy mà ngày về là một màu đen mờ mịt…
Mỗi một niềm đau là một hố thẳm, bút mực nào vạch nỗi bậc thang sâu, lời nói nào tả thấu được sư ác hiểm của đòn thù… Tôi rất cảm thông cho những ai lấy căm thù làm động lực đấu tranh, đó là điều đúng trong đời thường. Nhưng tôi có cách suy nghĩ khác, đó là để qua một bên lòng thù hận, mượn thuyết nhà
Phật: Đời chỉ là ảo ảnh, hư không, buông bỏ phiền muộn, phá chấp định kiến, giữ cái “tâm không” để vô tư, tự tại. Từ đó mới gẫm suy mọi chuyện.
Tự kiểm bản thân: Kiểm lại mọi liên hệ trong quãng đời qua. Những người sĩ quan trẻ như tôi bước vào cuộc chiến với lý tưởng, để rồi chịu tù tội. Được gì? Mất gì? Nhìn về phong cách thái độ của cấp chỉ huy, lãnh đạo đã quay lưng bỏ chạy vào những ngày cuối. Họ nghĩ sao về 3 chữ Tổ Quốc - Danh Dự - Trách Nhiệm mà họ đã mạnh dạn huấn thị cho chúng tôi phải tuyệt đối trung thành. Sự bỏ cụôc của Mỹ v.v… Nhưng không bao giờ đánh mất lý tưởng, luôn xác định chính nghĩa và suốt đời vẫn đứng trong tư thế của người quân nhân Miền Nam với niềm tin vững chắc sẽ có ngày Danh dự và vị trí chính nghĩa của người lính chúng tôi phải được phục vị, công lao, xương máu của chúng tôi sẽ được ghi công xứng đáng.
Đây là niềm tin bất diệt, là ánh lửa trong tim, là món nợ đời chưa xong, chúng tôi phải sống để làm cái việc đòi lại công đạo. Với tôi, còn có một thôi thúc riêng; không biết từ bao giờ, nhưng rất mãnh liệt từ nội tâm sâu kín. Đó là đời sống Tâm linh, nên đã tận dụng thời gian này, nghịch cảnh này biến nhà tù thành chùa tu. Chuyển hoá tâm trạng phiền não, u sầu bằng Thiền Tâm, mượn đời sống khắc nghiệt thiếu thốn của nhà tù để hành thiền. (Thiền trong hành xử là giữ giới, thể hiện tánh đạo đức với mọi người bất chấp ngoại cảnh, giữ tâm yên lắng ngay trong sinh hoạt phức tạp hàng ngày). Nhờ hành thiền ban ngày nên ban tối ngồi tham thiền định tâm mói hiệu quả, lâu ngày trở thành thói quen. Thiền Tâm giúp tôi được thanh thản và có những kết luận riêng: Mục đích thật của đời sống là trở về nguồn cội. Nguồn cội nơi một người là Tâm linh của chính mình. Khi phàm ngã (xác thân, lý trí, tình cảm) qui phục tâm linh, nhận Tâm linh là chủ nhân ông, là cái tôi thật, là con người thật (chân ngã) để hiệp nhứt vào. Kể từ đó ta có một đời sống mới, con người mới trường tồn, bất tử không phải chờ ngày tìm thuốc trường sinh ở đâu nữa.
Tâm thức của ta khác xưa rất nhiều: không ngại phiền não hay sự chết, không chấp đời, không phân biệt trong nhị-nguyên thức vì đã có một tâm thức hiệp nhất cùng vạn vật, biết đứng vào phương vị tổng thể để có hướng nhìn toàn quan, tư đó thế cách hành xử trong đời mà thoát đời “Cư trần bất nhiễm”
Đó là sống đời tự tại vĩnh cửu, vậy đối với ta thì trời đã mới, đất đã mới, còn mơ tìm Thiên đàng hay Niết bàn chi nữa! Hạnh phúc là được sống gần với sự thật, đời thật. Chân lý không hề là ảo tưởng, nó rất thật như mọi thứ vật chất trên thế gian, dụng nó bình thường như lời nói hàng ngày của ta vậy. Có khác chăng là chân lý luôn có hào quang và trường tồn. Đó là Nhân sinh quan bất biến nơi tôi, có lẽ vì thế khi trở về chuyện cũ đời tù, tôi chỉ muốn kể về những chuyện nhẹ nhàng, vui vẻ và có chút ý nghĩa nhân bản nào đó… tôi vẫn thích thú khi nhớ về …
Đội Văn Nghệ Của Trại Vĩnh Quang A (Vĩnh Phú)
Khoảng 1980, đội 8 ở trại Vĩnh Quang A có 2 bộ phận: bộ phận văn nghệ khoảng 30 người, một nửa còn lại là bộ phận lao động. Tôi từ bộ phận lao động lọt vào đội văn nghệ sau khi đội văn nghệ đã hoạt động nổi đình nổi đám cả năm rồi. Lý do không phải tôi có chút khả năng gì mà vì bạn bè thân nằm hết bên văn nghệ, anh em bịa ra những khả năng cho tôi để xin quản giáo cho nhập bọn. Trong đội văn nghệ có NT3 Trương Văn Vấn, một chủ lực chuyên viết chủ đề, soạn bài bản cho chương trình đã tạo được tiếng vang trong dân qua những chuyến lưu diễn xa trại.
Nhớ nhất là giai đoạn đi lao động kè đá bến phà ở một bến sông cách trại khoảng chục cây số. Tay cuốc tay đàn “lao động thông tầm” thời gian nghỉ trưa, sân lúa trong làng là sân khấu để trình diễn văn nghệ, cũng là lúc đổi chác linh tinh với dân, kiếm chút đường đậu, có khi còn có rượu đế để tìm chút hương cay. Biết bao chuyện vui xảy ra lúc này.
Trên sân lúa làng, khán giả càng ngày càng đông, từ già đến trẻ kể cả bộ đội. Họ xem văn nghệ rất say mê, lòng mến mộ là “cây nhà lá vườn”: đường, gạo, trái cây v.v… chất thành đống nhỏ. Có gã bộ đội trẻ mê tiếng đàn Kìm của ông già Kim (thiếu uý Cảnh sát, không tiện hỏi ông bao nhiêu tuổi nhưng nhìn cũng khoảng “ông già 70”). Một hôm dây đàn đứt dây, chú bộ đội trẻ này lặn lội ra tỉnh, hai hôm sau trở lại biếu ông sợi dây đàn, thân thiện như tình “ông cháu”.
Mấy bà lão được ưu tiên ngồi sát trên sân khấu, nhìn Đại úy Thượt (an ninh quân đội) đang diễn màn phun lửa, nuốt dao lam, mấy lão bà che mắt kêu giời: “này bác ơi, đàn hát là thích lắm rồi, đừng nuốt mấy cái “nưỡi nam” nhỡ “đứt ruột” thì chết, phải sống mà về với vợ con đó!”
Những màn hợp ca, đơn ca trống kèn đủ cả. Đại uý Cang có cây đàn Guitar nhỏ tự làm, anh đàn cả hai tay chuyền cây đàn quanh thân thể dân không thích sao được. Rồi Đại uý Long (pilot AD 6) Đại Uý Giàu (cảnh sát) xuống 6 câu vọng cổ mùi hơn Út Trà Ôn, Thành Được! Thật sao không nói hết tình “quân dân cá nước” trong cảnh ngộ oái oăm này. Nhiệm vụ tôi là gánh cơm, xách nuớc, nhờ vậy mà tôi lạo xạo quanh xóm, lo việc đổi chác, nhận quà của dân, lén lút dở trò “dân vận” để thu phục cảm tình quần chúng. Tôi luôn nghĩ mình dù buông súng nhưng vẫn còn chiến đấu.
Có cô thiếu nữ miền cao này đã bạo dạn hỏi tôi: “Mai này được tha, anh có trở lại đây không?” vừa nói vừa đặt vào tay mấy khúc mía vườn với ánh mắt long lanh, e thẹn! Bạn bè cũng thấy, tối về buồng giam, bảo nhau rằng: “Tụi mình hát hò mệt thấy mẹ, chỉ có thằng Quá là lời! Ê! Có tắm cũng chừa lại bàn tay nha mậy”

Chuyện về đội văn nghệ có viết thêm10 trang giấy cũng chưa thoả lòng. Đến Công an trại cũng rất hãnh diện với lời khen về ban văn nghệ của dân chúng các xã, huyện xa gần. Quan trọng là cả trại đều thương mến đội văn nghệ này, nhất là nhóm trẻ trong đội văn nghệ, mấy ngày Tết lợi dụng sự lơ đãng của Công an, đã trèo tường qua các đội khác để hát các bản tù khúc, những bản đấu tranh ngày trước để nhắc nhở nhau về thế đứng, về niềm tin. Đây là một việc làm khá nguy hiểm trong thời điểm ấy.
Phần tôi cũng trả xong nợ văn nghệ với màn vũ “Tiếng chày trên Bam-Bo” và một hoạt cảnh trên sân khấu điệu “cha, cha, cha” với người bạn Trần Lê Việt (bạn thân của NT 3 Vấn) trong y phục giả gái rất xinh đẹp đã làm mê mẩn khối anh chàng mà nẻo tù chưa phủ kín nét hào hoa. Những ngày ấy, đội văn nghệ như đàn én mang lại mùa Xuân, sinh khí niềm vui được trở lại cho hàng ngàn thân phận đang sống trong tủi nhục tuyệt vọng trong đó NT3 Trương Văn Vấn là tiếng hót của con sáo réo gọi “sổ lồng”. . và các thân hữu trong đội văn nghệ.
Chuyến Tàu Hỏa Số 3
Vào tháng 5/1982 phần lớn anh em cải tạo Vĩnh Quang được chuyển trại, lúc đó không ai biết điểm đến là nơi nào. Chúng tôi rời trại bằng xe Molotova mui trần, hai nguời chung một còng tay. Đoàn xe di chuyển chậm, đang chạy trên con đường quanh co theo chân núi, một bên là rừng cây xanh biếc, một phía là vực dâu những khe suối ẩn hiện sau lùm cây, cái đẹp vùng hoang dã của quê hương, hay là nẻo đường đời của những người tù cải tạo . . .
Trí tôi đang nhớ lại mẩu chuyện khi sáng, khi đoàn xe đang sắp xếp chờ di chuyển, có thằng bé độ 12 tuổi, con của một sĩ quan cấp tá, tay ôm một túi quần áo, vừa quẹt nước mắt, vừa muốn leo lên đoàn xe tù, vừa gọi bố cho nó đưa mấy bác cải tạo một đoạn đường . . . Thằng bé hằng ngày cùng với lũ trẻ chăn trâu, cứ theo sát chúng tôi tại hiện trường lao động, hát nghêu ngao mấy bản nhạc vàng về lính (Hùng Cường, Mai Lệ Huyền) thật dễ thương. Sau 4 năm trên đất Bắc, thái độ của dân, kể cả trại gia binh của công an trại đã thay đổi hẳn. Tất cả đều chào hỏi người tù lịch sự hơn nhiều so với lúc mới đến.
Một lần đợi đi lao động, tất cả đang dừng lại nghỉ bên đường. Bác chủ quán bên đường vừa mở nhạc vàng lên vừa ném về phía chúng tôi những bịch thuốc lào nhỏ. Công an bảo vệ nhắc nhở chủ quán không được “quan hệ”, chủ quán đã mắng thẳng vào mặt tên công an trẻ này: “Bố chúng mày, người ta ở tù đã nhiều năm khốn khổ như vậy mà người ta vẫn là con người, còn như chúng mày mà vào tù chỉ vài tháng chúng mày thành chó ngay, ông là bộ đội phục viên thì đừng hù ông nhé . . .”
Anh quản giáo của đội chạy đến... xử huề. Chúng tôi nhìn nhau cười. Sáu bảy năm rồi, nghe lại nhạc vàng thấy hay làm sao! Có cô giáo làng mấy hôm trước đến cảm ơn chúng tôi, nhờ mấy viên trụ sinh anh em nhín ra biếu, chị đã khỏi bệnh.
Đang lao động thì có một đám tang kéo đến và hạ quan ngay khu chúng tôi đang làm. Không ai bảo ai tất cả chúng tôi dừng cuốc, đứng yên ngả mũ, biểu lộ “cái lễ” sau cùng cho người chết. Sau đó gia trưởng của tang gia đã ngỏ lời cảm ơn: “Các anh rất đáng quý mà phải chịu nạn, xứ Bắc này không còn sống với lễ nghĩa, chúc các anh sức khỏe, đoàn tụ”. Đang miên man với quá khứ tù đày thì xe đã vào đến ven phố. Bọn tù chúng tôi ai cũng phải giật mình vì có những nắm xôi, chút tiền cột thung ném lên xe từ người dân bên đường. Tôi như cảm nhận đã có sự thay đổi trong lòng người đất Bắc, họ đã vứt bỏ đi lời tuyên truyền xuyên tạc của Cộng sản: “Lính ngụy là bọn mất hết nhân tính, chúng ăn thịt người, cần cải tạo lâu dài . . . .”
Rồi chúng tôi được đổ xuống một ga ven phố, nhà cửa ở đây vừa nhỏ vừa thưa, tôi chợt nhớ về kỷ niệm ấu thơ nơi một xóm nhỏ ven đô Sàigòn, những khoảnh khắc kỷ niệm, như những viên thuốc an thần để lãng quên thực tại . . .
Bây giờ kể lại có thể nói ngay điểm đến là Trại Xuân Lộc Z30A thuộc Tỉnh Đồng Nai. Thời gian di chuyển là 3 đêm 4 ngày. Đoàn tàu càng tiến về Nam thì dân càng tụ tập tò mò đông hơn, tại các nhà ga người lớn thì đứng từ xa nhìn vào đoàn tàu vẫy tay chào, trẻ con thì tay cầm thức ăn, quà bánh, tiền v.v… thừa lúc công an áp tải sơ hở là phóng đến sát bên tàu chạy ném đồ “tiếp tế” vào cửa sổ rồi phóng chạy biến vào đám đông.
Sự việc tương tự vẫn tiếp diễn mạnh hơn khi đoàn tàu chạy sâu về Nam, đến độ khoảng Nha Trang vào, tàu chờ tối mới vào ga, nhưng dân vẫn đông, tay cầm đèn bão, đèn dầu trẻ con vẫn phóng tới bên cửa sổ ném quà “phước thiện” vào. Công an bắt chúng tôi nạp lại số quà phước thiện này với lý do: “Nhân dân vẫn còn thù ghét các anh, trong mấy thứ này có độc chất, các anh mà trúng độc trong lúc di chuyển thì không cứu được đâu…”
Chúng tôi nói nhỏ với nhau: “Đồ cóc con, bố láo… còn chỗ đứng trong lòng dân, mình chưa thua đâu!” Và đây là chuyện phải kể:
“Đoàn Nữ Tiếp Viên Trên Chuyến Tàu Số 3”
Không khí trên tàu có vẻ căng thẳng trong hai ngày đầu, các cô ở lớp tuổi 20, 30 không hề nhìn đến đám tù mà chỉ tỏ thân thiện với công an. Họ mặc đồng phục kaki màu xám giống công nhân hãng xưởng, tác phong có vẻ “lao động là vinh quang” lắm. Qua ngày thứ ba, riêng tôi được công an mở còng để lấy nước bên toa Căng-tin phía trước, rồi đem phân phối lương khô (bánh mì đường) cho anh em, bước vào toa Căng-tin, 5, 7 cô nhìn tôi cười thật tươi, vồn vã thăm hỏi, nào là Anh ơi! Anh tên gì? ...Tụi em phải mất hai ngày để mua chuộc tụi nó đó, xong rồi! Hãy nói nhỏ với các bạn anh là biên tên, địa chỉ vào một mẩu giấy nhỏ, sẽ nhét vào tay tụi em khi thấy tụi em đi qua lại trên toa, nhớ nha, tin tức sẽ đến gia đình các anh sớm nhất đó.
Một cô rút ống vòi thọc sâu vào thùng phi nước, nhồi vài cái, rồi xịt thẳng vào người tôi vừa nói: “Đã mấy ngày không tắm hả anh?” Gươm lạc giữa rừng hoa, chưa kịp phản ứng gì lại một cô khác đưa cho tôi 1 ca nước đá chanh đường và nói: “Mời anh ly nước. Tôi vừa uống vừa nghe bên tai: “Nhỏ Hoa chưa có gia đình, nó muốn xin thăm nuôi đó, anh cho nó địa chỉ đi!” Tôi cười nhìn lại cô em thấy còn rất trẻ và xinh lắm.
Có cơ hội ra vào Căng-tin, tôi cũng mang ra được cho anh em khá nhiều thuốc lá, bánh kẹo, các cô nói nhỏ rằng: “Tất cả cho các anh, cả lương của tụi em đó anh, về được Miền Nam có thăm nuôi là sống rồi, cố gắng nhá” Những lời nói ngắn gọn nhưng gói trọn ân tình, nhất là các em đã xác định vị thế, lập trường ở cùng phía với người tù, tôi cảm thấy vui vì “tình quân dân” vẫn còn đó dù đang chiến bại!
Hai ngày ngắn ngủi còn lại, sự mệt mỏi của chúng tôi như tan biến, mọi người dù bị còng vẫn sửa lại thế ngồi, mắt mở to hơn vì kịp nhận ra một màn trình diễn thời trang của các gái hậu phương này. Các cô ăn mặc thật đẹp, đúng mốt thời trang Saigon 75, các cô làm tôi (chắc những người bạn khác cũng vậy) lại nhớ về những kỷ niệm bát phố bên người yêu, những ngày nghỉ phép. Các cô đi chậm rãi, chắp tay phía sau để nhận những mẩu giấy nhắn tin. Các cô trang điểm cẩn thận từ mái tóc đến kiểu giày, một sự biểu lộ thật tế nhị, tuyệt vời, thể hiện sự thương cảm sâu xa cho những “anh hùng lâm tuyệt lộ!”
Rồi con tàu dừng hẳn, chúng tôi có lệnh rời tàu, bên ngoài trời đã nhá nhem tối, trong lúc còn đứng lố nhố điểm danh, tôi vẫn nghe được tiếng các cô: “Các anh vào trại Gia rai, chào tạm biệt, nhớ giữ sức khoẻ, ngày mai trời lại sáng” Tôi quay lại nhìn, nơi mỗi cửa sổ tàu đều có dáng bóng hồng vẫy tay, có cô đang quẹt nước mắt nhìn theo đoàn người đang lầm lũ xa dần . . .Một tháng sau, đợt thăm nuôi đầu tiên đã xác nhận. Ngay tối hôm đó, đêm rời tàu, khoảng 9, 10 giờ đêm hầu hết gia đình đã nhận được tin. Hỏi ra mới biết, có một cặp chạy Honda đến gõ cửa nhà chỉ nói nhanh: “nhà có thân nhân cải tạo tên… …” mẩu giấy được trao và phóng đi ngay sau lời nói … còn rất nhiều địa chỉ phải báo …”
Mấy người bạn trẻ chúng tôi bàn rằng – Nhóm em gái hậu phương này rất đặc biệt, làm việc có chủ đích, kế hoạch nên phải có tổ chức, phải có một trưởng toán, hay trưởng tàu thuộc phe ta! Nghĩa cử này cần nhiều yếu tố đồng thuận mới làm được, không phải là việc làm tự phát . ..
Đã gần 30 năm qua, tôi không thể nhớ ra một gương mặt nào của đoàn nữ tiếp viên này, nhưng việc làm của các cô vẫn sống mãi trong lòng tôi. Các cô là hiệp nữ ân nhân là những nàng tiên cứu khổ đã để lại hào quang nỗi nhớ trong lòng những người tù trên chuyến tàu số 3. Lúc trong tù, tôi có nói với bạn bè, ước gì chúng ta có cơ hội để nói lời tri ân với các cô. Bây giờ những lời này dù chỉ gởi vào hư không vì không mong duyên tương ngộ, nhưng tôi vẫn tin rằng trong cảnh giới hư không huyền diệu, đã ghi công cho những tấm lòng vàng. Đấng Nhân Quả sẽ ban phước lành đến tất cả các cô, không ít những người tù cải tạo trên chuyến xe lửa đó đã cùng một tâm cảm tri ân để gởi đến các cô những lời chúc phúc tốt đẹp nhất. . .

Trại Tù Z30A Xuân Lộc – Những Năm 1982- 1983
Giữa hai dãy nhà tù là một sân banh, kích thước khuôn thành tương đối đúng tiêu chuẩn. Nơi đọ sức thường xuyên giữa hai đội bóng: Công an trại và đội tù ở lớp tuổi 40! Cầu thủ đội Công an còn trẻ lắm, đi tranh giải tận Hà Nội đạt thành tích cao, tập dượt thường xuyên, đôi khi được tuyển từ 3 trại của Z30 và tăng cường vài hảo thủ Công an từ Hà Nội vào hay Sàigòn lên, nhưng chưa bao giờ họ thắng đội banh tù này. Những ngày cuối tuần, thường diễn ra các trận đấu, tiếng hoan hô cổ võ vang động một góc trời, có lúc người dân xã Xuân Thành cách trại 3 cây số chim bay phải giật mình vì tưởng tù phá trại. Ban chỉ huy trại cũng bị lôi kéo vào cuộc đấu. Đã có những buổi họp chỉ thị vừa chiến thuật vừa chính trị để tìm cách thắng chúng tôi nhưng vô hiệu!
Tôi là một cựu cầu thủ của trường Đại Học CTCT Đà Lạt; là đội trưởng đội bóng. Chúng tôi ra sân với quần áo, giày vớ chỉnh tề như một đội bóng chuyên nghiệp, kể cả trọng tài (anh Lê Trung Cang) cũng ăn mặc đúng tiêu chuẩn và bên phía Công an cũng vậy. Hàng ngàn người xem luôn bị lôi cuốn đến quên mất mình… đang ở tù. Không khí thể thao lên cao đến độ vài anh em không biết đá banh nhưng cũng yêu cầu đội banh đặt thêm áo, giày để họ mặc vào cho giống cầu thủ, để chỉ chạy lăng xăng vòng ngoài tiếp tế nước chanh, hay đấm bóp.
Anh sáu Trường trong ban y vụ cũng lén chôm thuốc chích cho tôi Vitamine C đều đều trước khi xung trận . . . Mục đích riêng của tôi như đã đạt được như ý, đó là: không khí căng thẳng trong trại đã giảm dần. Nội qui trại không còn khắt khe, cả trại có thể qua lại thăm nhau, quan hệ linh tinh, trà lá thoải mái, cũng bởi những lý do khởi đầu tôi nêu ra với Công an trại là tôi cần liên lạc với các đội để tìm cầu thủ cho đội bóng. Anh em cầu thủ có người không được thăm nuôi, nên để cho họ bạn bè bồi dưỡng sức khoẻ để có sức chơi v.v… Công an trại hầu hết mê bóng đá đành phải nới lỏng dần kỷ luật trại.
Tôi vẫn thường được các thầy như Đại Tá Huy (Trung đoàn trưởng 12-Sưb đoàn 7), Đại tá Vinh (Nhảy dù) và rất đông các đàn anh ủng hộ, bồi dưỡng và còn dặn nhỏ những điều quan trọng: “Ê! Quá em, chiều nay phải dứt điểm nha, mình chỉ còn có cái sân cỏ này để rửa mặt mũi;” hoặc là “hôm nay là ngày 19/6, Ngày Quân Lực phải quyết thắng đó!”
Có khi tôi phải bật cười vì được nhắc rằng: “Này, hôm nay là ngày sinh nhật của bố chúng nó, thằng già Hồ đó, phải đánh rạt gáo, không cho gỡ một quả nào nghe hôn!” Đội banh tù đã làm được điều đó. Có lẽ vì vậy mà vài “Công an cầu thủ” có nói riêng với tôi là ban chỉ huy của họ có lưu ý đến cá nhân tôi và khuyên tôi nên cho người khác làm đội trưởng, còn tôi vẫn chơi, vẫn điều động bên trong vì nếu không có chân bên đội tù thì chính họ cũng mất hứng thú, tôi đồng ý vì chính tôi cũng không muốn lộ tẩy “phản động”.
Có lần đội Công an tranh giải liên tỉnh họ kéo mình tôi theo, nhưng dân mộ điệu rất tinh mắt, giữa trận nghỉ giải lao họ bu lại nói ngay: “Anh là dân cải tạo đá tăng cường chứ gì! Có thăm nuôi đều không? Tóc muối tiêu mà đường ‘tiền vệ’ còn vững lắm, hồi trước đá cho đội nào vậy?
Có lần 3 trại A, B,C của Z30 tranh giải vào mùa Tết có lẽ là năm 1983, nhờ vậy ba anh cầu thủ gạo cội của trại C là Nghệ, Lực và Hai đã đánh một vòng trên chục cây số đường bộ để vào khu lâm sản A tìm gặp tôi, dân cầu thủ gặp nhau là thân tình ngay. Ba anh cho tôi biết là đã từng đá chung với Ngỡi (bạn thân của tôi và là cầu thủ số 1 của khoá 2) ở vài trại khoảng 2 năm đầu. Lúc đó Ngỡi nhắc đến tôi rất nhiều khiến họ thuộc tên và khi gặp nhau trên sân cỏ, nghe tên họ đoán ngay tôi là người Ngỡi đã nhắc nhở, các anh gặp tôi để kể về trường hợp trốn trại của Ngỡi và từ đó bặt tin. Họ rất mến tính tình hiền hoà của Ngỡi cũng như Ngỡi có cú sút ngàn cân và chính xác nữa.
Nghe họ kể, nước mắt tôi lưng tròng, vì nó là thằng bạn “xác hồn” với tôi mà, biết bao là kỷ niệm, tôi lặng người khi nghĩ đến chị Ngỡi và 2 cháu nhỏ. Ngỡi ạ, vĩnh viễn không còn gặp mày trên cõi đời này, nhưng có cơ hội để nhớ mày, để nhắc mày tao không bỏ qua được, chúc mày được bằng an nơi cõi vĩnh hằng, hơn 30 năm vợ mày vẫn thủy chung và làm tròn trách nhiệm lo cho hai con mày trọn vẹn. Đến nay 2 đứa đã lập gia thất. Hẳn là linh hồn mày cũng vui vẻ mà siêu thoát . . .
Chuyện gì đến phải đến đầu tháng 12/83 tôi có tên được thả, mang đồ đạc cá nhân, chuyển qua trại B kế bên, ở tạm một đêm, rồi sáng hôm sau nhận giấy ra trại. Tối đó có khoảng vài chục công an trại (không phải đám quản giáo hay an ninh trực trại mà tôi đã quá quen), đứng bên ngoài cửa sổ tù, lần lượt đưa tay qua song cửa tù bắt tay bắt tay tôi. Họ bày tỏ lòng ngưỡng mộ tài nghệ và phong cách của tôi. Họ nói đã xem bóng đá bên ngoài cũng nhiều nhưng họ không mê bằng đội bóng đá của tôi, bây giờ trên sân cỏ của trại họ không còn được xem tôi chơi nữa, buồn lắm! Nhưng cũng phải mừng cho tôi đoàn tụ gia đình.
Huệ (Đại uý không quân) trung phong của đội bóng, được thả cùng một đợt, buông một câu ngắn: “chuyện khó tin”. Tôi nói giỡn: “Đối với tụi nó phải dùng tay chân thu phục, chứ miệng lưỡi vô ích” rồi cười xoà.
Đội bóng từ nay thiếu tôi, thiếu Huệ chắc phải vất vả lắm với đám công an. Một chút bùi ngùi vì sau lưng tôi vẫn là con số ngàn sĩ quan cải tạo. Nhưng thôi, phần mình hơn một năm qua đã góp sức mọn vào niềm vui chung cho cả trại, mọi người còn có một trận tuyến để reo hò, để trút ra một phần nào những phẫn nộ, những u uất của người tù . . .
Thật ra “nghiệp banh tròn” của tôi chỉ là những ánh chớp trong đêm đen nhưng cũng cho
tôi hai giai đoạn để nhớ đời:
• Một là đội bóng của trường tôi Đại Học Chiến Tranh Chính Trị. Tôi vẫn nhớ vanh vách từng khuôn mặt, từng lối đá của từng người như Ngỡi, Nhung, Sử, Sung, Phát, Son, Nên, Long, Tri, Đại uý Đồng, Đại Uý Miên v..v. đã tạo nên thành tích thể thao cho trường, đã từng đại diện Quân Khu 2 về Sàigòn tranh giải toàn quốc.
• Hai là đội bóng tù Z30A, đàng sau những niềm vui thể thao trên sân cỏ, nó vẫn hàm chứa rất nhiều ý nghĩa mà chỉ có những người tù Z30A mới hiểu và yêu mến đội bóng này. Đó là những niềm vui còn đọng mãi trong tôi khi nhớ về những năm tháng dài … Đi Trên Vết Thù . . .
(Viết để kỷ niệm với những người thân: Lê Trung Cang, Minh Kỷ, Hữu Tín, Lương Việt, NT3 Trương Văn Vấn, Lê Việt v..v.)



NT2 Trần Văn Qúa

 

 

 

 


Chương Trình Làm Việc
Các Hội Địa Phương
Mail Group Tổng Hội
Nội Quy

 

 

______________________

Một thời sinh viên SQ.

__________________________

Đà Lạt, vùng trời để nhớ

 

  Tổng Hội Ái Hữu Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Đại Học Chiến Tranh Chính Trị - Đà Lạt @copyright 2007