Ý NGHĨA HUY HIỆU
CỦA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CHIẾN TRANH CHÍNH TRỊ
ĐÀ LẠT
I.- CẤU TẠO VÀ HÌNH DẠNG:

Huy hiệu của Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt có hình cái khiên/cái mộc (Écu, shield) thẳng đứng, đáy ở trên, đỉnh ở dưới. Có tỷ lệ là chiều rộng bằng 2/3 chiều cao.
Nền của huy hiệu màu đỏ tươi. Trong lòng huy hiệu là một hình lục giác đều được cấu tạo thành một hình có 6 mũi tên, đỉnh tù, hướng đều ra chung quanh. Mỗi mũi tên được chia làm 2 phần đều đặn có màu trắng và màu xanh đậm. Bên trong hình lục giác nầy lại có một hình lục giác nhỏ hơn, nền màu đỏ tươi. Trong hình lục giác có hình một quyển sách đang mở, một thanh kiếm gác chéo trên quyển sách, mũi kiếm hướng về phía trên, bên trái, chuôi kiếm gác trên góc phải phía dưới của quyển sách. Phía trên cao về hướng đỉnh của quyển sách là một ngôi sao nhỏ có 5 cánh, đỉnh hướng lên trên, nằm trên đường thẳng tưởng tượng kéo dài từ đường gáy của quyển sách. Quyển sách, cây kiếm và ngôi sao 5 cánh đều có màu trắng.
Lồng phía sau 2 hình lục giác đều được mô tả trên đây là một cây đuốc màu vàng đang cháy sáng, theo thế thẳng đứng, ngọn lửa ở phía trên, thân cây đuốc tạo thành đường trung tuyến của cái khiên.
II.- Ý NGHĨA:
- Màu ĐỎ TƯƠI làm nền cho huy hiệu tượng trưng cho dòng máu Lạc Hồng đang chảy trong huyết quản nhân dân Việt Nam. Màu đỏ tươi cũng là biểu tượng của bầu nhiệt huyết của lớp nam nữ thanh niên Việt Nam quyết đem máu xương để bảo vệ và tô bồi dải giang sơn gấm vóc hình chữ S mà tiền nhân đã dày công gầy dựng và bảo vệ. Ngoài ra, theo ngũ hành, màu đỏ tuợng trưng cho hành Hỏa, được biểu thị là phương Nam, nơi dân tộc Việt Nam đang hùng cứ.
- Màu VÀNG của cây đuốc tượng trưng cho màu DA VÀNG của dân tộc Việt. Màu VÀNG cũng là màu CỜ mà từ thời HAI BÀ TRƯNG khởi nghĩa chống quân Nam Hán đã sử dụng lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc và được truyền thừa dến ngày nay qua lá CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ.
- CÂY ĐUỐC đang cháy rực sáng mang ý nghĩa là vật soi đường dẫn lối để dân tộc tiến về phía trước trong tinh thần chinh phục kẻ thù, khắc phục mọi khó khăn để xây dựng một đất nuớc Việt Nam Hùng cường, Giàu mạnh và Văn minh, Tiến bộ.
- SÁU MŨI TÊN liên kết chặc chẻ với nhau theo hình Lục giác đều tượng trưng cho LỤC ĐẠI CHIẾN, đó là: TƯ TUỞNG CHIẾN, TỔ CHỨC CHIẾN, TÂM LÝ CHIẾN, TÌNH BÁO CHIẾN, MƯU LƯỢC CHIẾN và QUẦN CHÚNG CHIẾN. Đây là một quan niệm mới mẻ về chiến tranh, vì không chỉ đặt nặng về mặt Quân sự như trong quan niện chiến tranh cổ điển mà biết phối hợp một cách hợp lý giữa các yếu tố Quân sự, Chính trị và Tinh thần để thích ứng với hình thức “chiến tranh nhân dân” do Trung cộng chủ xuớng, được Việt cộng áp dụng trong cuộc chiến tranh xâm lăng miền Nam Việt Nam. Với LỤC ĐẠI CHIẾN, người sĩ quan Chiến tranh Chính trị sẽ khai thác tất cả các phương diện của cuộc sống, kết hợp nhuần nhuyễn với nhau tạo thành một sức mạnh tinh thần, bổ sung cho yếu tố vật chất như vũ khí, chiến cụ, quân số…để đưa cuộc chiến đến thắng lợi cuối cùng.
- HAI MÀU TRẮNG và XANH ĐẬM (bleu marine) trên mỗi ngôi sao Lục Đại Chiến tượng trưng cho sự Trong sạch (màu trắng) và Bình tỉnh (màu xanh đậm) mà người Sĩ Quan Chiến tranh Chính Trị cần có khi luợng định, đánh giá, cân nhắc … mỗi MŨI trong Lục Đại Chiến để sự phối hợp đem lại được kết quả tối ưu.
- QUYỂN SÁCH , THANH KIẾM và NGÔI SAO trắng là biểu tượng dành riêng cho Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt.
• MÀU TRẮNG trên 3 vật thể kể trên biểu thị cho tâm hồn trong trắng “như tờ giấy trắng” của các SVSQ/CTCT. Họ sẳn sàng để được huấn luyện, đào tạo hầu trở thành một Sĩ quan văn võ toàn tài, có đủ kiến thức, khả năng và đảm lược để gánh vác mọi trọng trách sau nầy khi đã tốt nghiệp.
• QUYỂN SÁCH đang mở rộng tượng trưng cho tinh thần quyết tâm học tập về mọi phương diện của người SVSQ/CTCT/ĐL.
• THANH KIẾM được gác chéo trên quyển sách tượng trưng cho chí “tang bồng hồ thỉ” của người trai, đặc biệt là trong thời loạn.
• NGÔI SAO 5 CÁNH nằm tít trên cao biểu tượng cho sự “định hướng”. Nhờ ngôi sao định hướng nầy, người SVSQ/CTCT trong khi đang thụ huấn hay người Sĩ quan Chiến tranh Chính Trị sau khi tốt nghiệp sẽ không bao giờ bị “lạc hướng đi” trong quá trình phục vụ Quốc gia Dân tộc. Hướng đi chính mà người sĩ quan chiến tranh chính trị luôn luôn theo đuổi là tinh thần xả thân để bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam, phục vụ Dân Tộc Việt Nam theo gương Tiền Nhân đã hun đúc trãi nghiệm. Nếu không có NGÔI SAO SOI ĐƯỜNG thì ngọn đuốc dẫn đường (nêu trên) đôi khi bị lạc hướng, có thể đưa Dân tộc đến chỗ nghèo nàn, lạc hậu… thậm chí có thể dẫn tới bên bờ vực thẳm của thảm trạng diệt vong, một chứng nghiệm thực tế là đảng Cộng sản Việt nam đang phạm phải! III.- LỤC ĐẠI CHIẾN:
Trên đây chúng ta đã được giới thiệu về Lục Đại Chiến, đó là: Tư Tưởng Chiến, Mưu Lược Chiến, Tổ Chức Chiến, Tình Báo Chiến, Tâm Lý Chiến và Quần Chúng Chiến. Sau đây chúng ta tìm hiểu thêm về ý nghĩa của mỗi khâu trong Lục Đại Chiến.
1.- Tư Tưởng Chiến : Tư tưởng là một hiện tượng về ý thức (pensée, thought). Phàm mỗi khi làm một việc gì mà quán triệt được việc đó thì dễ thành công. Cũng vậy, trong một cuộc chiến tranh mà toàn thể quân dân đều quán triệt được lý do và mục đích chiến đấu, thành tâm thành ý dốc lòng, dốc sức chiến đấu thì chắc chắn sẽ chiến thắng. Cái lý do, mục đích chiến đấu đó phải “thuận lòng trời, hợp lòng người”, tức là phải có Chính Nghĩa. Dù là hình thức chiến tranh cổ điển hay chiến tranh giữa hai phe Cộng sản và Thế giới Tự do, Chính Nghĩa vẫn là yếu tố quan trọng quyết định chiến thắng cuối cùng. Không có Chính nghĩa thì dù có đạt được chiến thắng nhất thời, cuối cùng vẫn bị thất bại.
Các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm phương Bắc như hai cuộc chiến chống giặc Nguyên Mông vào các năm 1284, 1287 dưới triều vua Trần Nhân Tông hay cuộc kháng chiến đánh đuổi giặc Minh (1418-1427) của Lê Lợi đều là những cuộc chiến tranh có chính nghĩa, nên dù thời đó chưa có ý niệm “Tư Tưởng Chiến” nhưng từ vua quan đến dân chúng đều thấu triệt lý do, mục đích của cuộc chiến, hay nói một cách khác là toàn quân toàn dân đều được “đả thông tư tưởng”, thống nhất ý chí, nhất tề theo đuổi cuộc chiến đem đến những thắng lợi vẻ vang cho dân tộc.
Muốn cho Chính Nghĩa được toàn quân, toàn dân thấu triệt tất phải dùng Tư Tưởng để phổ biến. Tư Tưởng Chiến là một hình thức chiến tranh đặt nặng vấn đề tinh thần chiến đấu. Trong cuộc “chiến tranh Quốc Cộng”, yếu tố Chính Nghĩa vô cùng quan trọng nên Tư Tưởng Chiến là khâu Chủ Đạo.
2.- Mưu Lược Chiến : Mưu lược thường được dùng để chỉ việc binh. Mưu Lược Chiến là dùng mưu mô để thắng địch. Trong Binh pháp của Tôn Tử có nói: “Dùng binh mà lấy mưu lược để thắng địch là thượng sách, kế đến là dùng ngoại giao, kế nữa là dùng binh, hạ sách là tấn công thành. Cho nên người giỏi dụng binh, thắng địch mà không phải giao chiến, đoạt thành mà không cần tấn công, phá quốc mà không cần đánh lâu, nhất định phải dùng mưu lược toàn thắng mà thủ thắng trong thiên hạ, quân không mỏi mệt mà vẫn giành được thắng lợi hoàn toàn”.
Chính Mưu lược là yếu tố quan trọng trong việc dụng binh nên Binh pháp Tôn Tử có “Tam thập lục kế” để giúp cho người chỉ huy có kiến thức về mưu lược và tùy hoàn cảnh mà sử dụng mưu lược để chiến thắng.
Tiền nhân ta cũng đã nhiều lần sử dụng mưu lược một cách tài tình để chiến thắng vẻ vang giặc xâm lăng phương bắc. Trước hết phải kể đến mưu lược mà Ngô Quyền sử dụng để đánh tan quân Nam Hán, bắt sống Thái tử Hoằng Thao trên sông Bạch Đằng vào năm Kỷ Hợi (939). Trong cuộc chiến tranh chống quân Tống xâm lăng vào năm Bính Thìn (1076) khi Quách Quì dàn quân bên kia bờ sông Phú Lương, dùng súng bắn đá bắn sang như mưa, thuyền ta thủng nát mất nhiều, quân sĩ bị chết hàng mấy ngàn người. Quân Tống đánh rất hăng, áp đảo tinh thần quân ta. Để lật ngược tình hình, danh tướng Lý Thường Kiệt đã cho thi hành một mưu kế thần tình: Ông lén sai người giả làm thần nhân núp trong đền Trương Hát, đọc thơ nắng giặc rằng:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư,
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ dẳng hành khan thủ bại hư”.
Quân lính nghe đọc mấy câu thơ ấy, ai nấy đều nức lòng đánh giặc khiến quân Tống không tiến lên được. Trận nầy quân Tống thất bại, về sau phải đồng ý giảng hòa rồi rút quân về.
Đó là một vài mưu lược mà tiền nhân đã vận dụng để đánh bại quân xâm lăng phương bắc, tất nhiên còn rất nhiều mưu mô xuất chúng đã được ghi trong Việt sử mà ta không thể kể hết được!
3.- Tình Báo Chiến : Tình Báo (intelligence) là báo cáo tình hình của địch. Muốn nắm vững tình hình địch phải có gián điệp. Binh Pháp Tôn Tử chia gián điệp ra làm 5 loại là :
- Nhân gián (Hương gián): Lấy người bên nước địch để làm gián điệp.
- Tử gián: Phô trương những tin giả để cho địch nhận định lầm về ta.
- Nội gián: Dùng người trong cơ sở của địch để làm gián điệp cho ta.
- Sinh gián: Hạng gián điệp có thể trở về để báo cáo tình hình thay vì chỉ gởi tin tức qua các gián điệp trung gian.
- Phản gián: Lấy gián điệp của địch làm gián điệp của ta.
Trong mọi cuộc chiến tranh, yếu tố tình báo là yếu tố quan trọng đóng góp nhiều cho chiến thắng nên Binh pháp Tôn Tử có câu : “Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi; Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ; Bất tri bỉ, bất tri kỷ, mỗi chiến tất bại” (Biết người biết mình, trăm trận không nguy; Không biết người mà chỉ biết ta, một trận thắng một trận thua; Không biết người, không biết ta, mọi trận đều bại).
4.- Tổ Chức Chiến : Tổ Chức (To organize, Organisation) là sắp đặt cho đủ lề lối, bộ phận để tiến hành một công việc.
Khái niệm “tổ chức” được biết đến ngay khi loài người biết sống hợp quần với nhau, theo thời gian, cùng với sự tiến hóa của loài người, “tổ chức” trở thành môt yếu tố quan trọng trong nhiều lãnh vực sinh hoạt của người xưa. Ngày nay, với sự phát triển cao độ của khoa học kỹ thuật, “tổ chức” càng đóng vai trò thiết yếu hơn trong việc quản lý, điều hành công việc của bất cứ một công ty, xí nghiệp hay cơ quan nào. Nói môt cách khác, tổ chức chính là “bộ xương” chống đỡ cho mọi cơ quan. Không có yếu tố “tổ chức” thì không cơ quan nào đứng vững được đừng nói gì đến vấn đề phát triển! Hiện nay yếu tố “tổ chức” đã được coi trọng, được chấp nhận như một môn học cần thiết và được giảng dạy tại các trường đai học. Gần đây có nhiều người còn có tham vọng muốn nâng yếu tố “tổ chức” lên hàng văn hóa, họ thường dùng nhón từ “văn hóa tổ chức” trong các bài viết hay tài liệu của họ. Nhưng đây là môt vấn đề cần có thời gian để thẩm định!
Về phương diện quân sự, như ta đã biết, ngày nay không có một nước nào có một đội quân hùng mạnh mà không gồm đủ các quân chủng Hải Lục Không quân. Thêm vào đó với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự tối tân hóa các chiến cụ, khí tài chiến tranh càng làm cho việc điều hành quân đội càng khó khăn, phức tạp hơn, do đó yếu tố “tổ chức” càng quan trọng hơn. Trên thực tế không cuộc chiến tranh nào chỉ đơn thuần về mặt quân sự, không mặt trận hay cuộc hành quân nào mà không có sự hợp đồng các quân binh chủng, thử hỏi nếu không được tổ chức hoàn hảo thì làm sao có thể đạt được chiến thắng? Nói tóm lại, về phương diện quân sự, Tổ Chức vẫn đóng vai trò cốt yếu.
Lật lại trang sử Việt, chúng ta cũng thấy ông cha ta cũng đã vận dụng một cách sáng tạo yếu tố “tổ chức” vào chiến tranh. Vài ví dụ đặc trưng như trong cuộc chiến tranh chống xâm lăng dưới triều Trần, trước một đội quân hùng hậu và hung hản của Nguyên Mông, trước quan niệm chiến tranh lấy nhân vật tài lực của những vùng bị chiếm đóng để tăng cường cho đội quân xâm lăng và trước tình thế yếu kém về nhiều phương diện của đất nước ta thời bấy giờ, vua nhà Trần đã chỉ đạo (hay tổ chức) một cuộc chiến tranh gọi là “thanh dã”, tức cho thực hiện “vườn không nhà trống”, để quân Nguyên không thể khai thác tài nguyên tại chỗ để phục vụ chiến tranh đồng thời tránh né đụng độ với địch, rút quân đội về những an toàn khu để nuôi dưỡng và phát triển chờ cơ hội phản công. Hay trong cuộc tiến quân thần tốc ra Bắc đánh quân Thanh, với thiên tài quân sự kiệt xuất, vua Quang Trung đã tổ chức một cuộc hành quân có một không hai trong quân sử thế giới: Vừa tuyển quân vừa huấn luyện vừa di chuyển mà chỉ trong vòng vài mươi ngày đã đưa được một đội quân đông đảo, hùng mạnh bí mật tiến chiếm Thăng Long trước sự bất ngờ và khinh địch của giặc, đem lại một chiến công oanh liệt cho Dân tộc!
5.- Tâm Lý Chiến : Tâm lý là nguyên lý và bản thể của con người, là lẻ biến hóa tác dụng của tâm.
Trong binh pháp thời xưa, luận về “Tâm” có hai phần: Đoạn Tâm và Vững Tâm. Về “Đoạn tâm”, Lý Chuyên nói: “Bực tức dẫn đến phẩn nộ, càn quấy dẫn đến rối loạn, nhỏ nhen dẫn đến kiêu căng, ngăn cánh dẫn đến xa lạ”. Nói về yêu cầu của “Vững tâm”. Tư Mã Pháp nói: “ Bản chất phải vững vàng, biết được kẻ địch sẽ có cách đối phó, bản tâm ổn định nhưng còn phải biết điều khiển nó, làm cho thế ổn định càng trở nên chắc chắn, đừng bận tâm đến sự nhiễu loạn, đừng vì cái lợi trước mắt. Đợi chừng nào kẻ địch rối loạn, ồn ã thì xuất quân tấn công”.
Đây là lãnh vực mà Đức Thánh Tổ Nguyễn Trãi là người xướng xuất và vận dụng rất thần tình, dẫn đến thành công mỹ mãn. Ngài đã chủ trương “Dĩ đại nghĩa nhi thắng hung tàn, dĩ chí nhân nhi dịch cường bạo” nên trong suốt cuộc kháng chiến đánh đuổi giặc Minh, Ngài luôn luôn chú trọng đến yếu tố tâm lý. Chính Ngài đã từng viết trong Bình Ngô Đại cáo: “Bỉ trí cùng nhi lực tận, thất thủ đãi vong, ngã mưu phạt nhi tâm công, bất chiến tự khuất”(Nó đã trí cùng lực kiệt, bó tay không biết tính sao, ta đây mưu phạt tâm công, chẳng đánh mà người chịu khuất). Thật vậy, ngay từ lúc khởi đầu cuộc chiến Nguyễn Trãi đã cho quân lính dùng mở viết tám chữ “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần” lên lá cây rừng để kiến ăn đục thủng lá cây, rồi rơi rụng trôi theo dòng nước xuống miền xuôi. Dân chúng lượm được cho là ý trời đã định nên phao tin cho nhau, cùng rũ nhau về đầu quân dưới trướng Lê Lợi, cùng quyết tâm kháng chiến chống giặc Minh. Trong Quân Trung Từ Mệnh Tập, Đức Thánh Tổ đã gởi nhiều thư từ trao đổi với tướng giặc. Đối với các tướng sĩ người Việt trót chạy theo quân Minh thì gởi thư dụ hàng, hứa sẽ không truy cứu tội theo giặc (Dụ Thanh Hóa Đẳng Thành Thư: Thư dụ các thành Thanh Hóa). Đối với Vương Thông, khi thì đấu lý đấu lẽ, có lúc hù dọa, lúc lại khiêu khích, khi thì đề nghị giảng hòa. Với các tướng bên dưới như Sơn Thọ, Thái Phúc … Ngài dùng lời lẽ nhỏ nhẹ, lấy nhân nghĩa làm nền để thuyết phục, ly gián cùng chủ tướng Vương Thông hầu dụ hàng hoặc ít ra cũng làm tiêu tan nhuệ khí của cấp chỉ huy địch. Một đòn tâm lý rất ngoạn mục đã xoa dịu được tâm lý kiêu căng nước lớn của Minh triều và tránh được cuộc chiến phục thù của chúng là cấp cho thủy quân 500 chiến thuyền, giao cho Phương Chính, Mã Kỳ dẫn về, còn cấp lương thảo cho lục quân và giao 2 vạn người đã ra hàng cho Sơn Thọ, Hoàng Phúc quản lĩnh cùng Vương Thông kéo nhau về Tàu.
Trong cuộc chiến đánh đuổi giặc Nguyên Mông, Vua Trần Nhân Tông cũng đã áp dụng “Tâm lý chiến” với địch. Biết được yếu điểm của quân Nguyên là phải trông cậy vào lương thảo do chính đoàn quân hậu cần cung cấp chớ không thể dựa vào của cải cướp được tại địa phương, nên khi được tin tướng Trần Khánh Dư đã tiêu diệt hoàn toàn đoàn thuyền chở lương của Trương Văn Hổ, nhà vua đã cho thả tất cả quân bắt được về trại địch để chúng báo hung tin, khiến cho tinh thần quân địch bị suy sụp. Đó cũng là một trong những nguyên nhân đưa đến chiến thắng Bạch Đằng vang dội và các chiến công khác tiếp theo sau đó.
6. Quần Chúng Chiến : Quần chúng là mọi người ở trong xã hội. Quần Chúng Chiến là cuộc chiến tranh vận dụng sức mạnh của toàn thể dân tộc để theo đuổi cuộc chiến. Hai bên tham chiến, bên nào vận dụng được sự ủng hộ của dân chúng thì nắm chắc phần thắng trong tay, ngược lại phe nào không nắm được dân, hay bị phe địch dùng mánh khóe tuyên truyền để tách dân ra khỏi chính quyền thì phe đó khó bề thắng lợi!
Ngày xưa chiến tranh là việc riêng của giới cầm quyền (vua, quan), chứ dân chúng thì hoàn toàn thụ động, vua quan bắt dân vào lính để đi đánh nhau thì dân phải tuân theo. Hai bên đánh nhau nếu có bị chết chóc hay tan cửa nát nhà thì dân chịu, nếu thắng lợi, thu được chiến lợi phẩm hay bắt được nô lệ thì giới cầm quyền chia nhau hưởng chứ dân không được gì. Ngoại lệ là những cuộc chiến tranh chống ngoại xâm của nước ta chống kẻ thù bành trướng phương Bắc thì được dân chúng nhất tề ủng hộ, nên đều đạt thắng lợi vẻ vang. Có thể xem cuộc Hội Nghị Diên Hồng dưới triều Trần là hình thức “Quần Chúng Chiến” đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của ta. Qua Hội Nghị Diên Hồng, vua Trần Nhân Tông nhận thấy dân chúng đồng lòng nên quyết tâm kháng cự quân Nguyên.
Ngày nay, với hình thức “chiến tranh nhân dân” được phát triển và quảng bá khắp nơi trên hành tinh, yếu tố quần chúng là một trrong những yếu tố quan trọng quyết định cuộc chiến, hay nói một cách khác Quần Chúng Chiến đóng một vai trò trọng yếu trong các cuộc chiến tranh hiện tại.
Trên đây dù chúng tôi đã giới thiệu sơ lược về mỗi khâu riêng biệt trong Lục Đại Chiến, nhưng thực chất trong một cuộc chiến tranh, các khâu đó thường được liên kết chặc chẻ hoặc đan kết với nhau đến độ không thể tách rời ra được. Chẳng hạng như trong các thí dụ dẫn chứng nêu trên được rút ra từ lịch sử dân tộc, như sự kiện danh tướng Lý Thường Kiệt cho người giả làm thần nhân núp trong đền Trương Hát đọc bài thơ “Nam Quốc sơn hà Nam đế cư…” là một kết hợp bất khả phân ly giữa Mưu Lược Chiến và Tân Lý Chiến. Việc Nguyễn Trãi dùng lá rừng để quảng bá thiên ý “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần” có thể xem là một đòn tâm lý (Tâm Lý Chến), một mưu lược (Mưu Lược Chiến) và một sự vận dụng nhân dân ủng hộ cuộc kháng chiến đánh đuổi giặc Minh (Quần Chúng Chiến). Việc vua Quang Trung hành quân thần tốc tái chiếm Bắc Hà, bất ngờ đánh tan 20 vạn quân Thanh trong một kỷ lục hiếm có trong lịch sử nhân loại có liên hệ mất thiết giữa Tổ Chức Chiến, Mưu Lược Chiên, Quần Chúng Chiến và Tình Báo Chiến.
Nói tóm lại, tuy Lục Đại Chiến được phân chia ra làm 6 khâu riêng biệt, nhưng trong quan niệm “chiến tranh tổng thể” hay “chiến tranh toàn diện” ngày nay, sáu khâu: Tư Tưởng Chiến, Mưu Lược Chiến, Tình Báo Chiến, Tâm Lý Chiến, Tổ Chức Chiến và Quần Chúng Chiến cần phải được kết hợp chặc chẻ, nhuần nhuyển với nhau và phải biết cân nhắc, vận dụng mỗi mũi nặng nhẹ khác nhau tùy hoàn cảnh, tùy điều kiện, khả năng mới hy vọng đạt được kết quả tối ưu trong mỗi trận đánh. Tuy nhiên trong một cuộc chiến tranh tổng thể, phải kết hợp, sử dụng và khai thác đồng đều cả Lục Đại Chiến mới mong đem lại được chiến thắng cuối cùng.
NT1 Trần Kim Khôi
|